<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
  <channel rdf:about="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/42339">
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/42339</link>
    <description />
    <items>
      <rdf:Seq>
        <rdf:li rdf:resource="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77644" />
        <rdf:li rdf:resource="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77643" />
        <rdf:li rdf:resource="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77642" />
        <rdf:li rdf:resource="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77641" />
      </rdf:Seq>
    </items>
    <dc:date>2026-04-09T17:56:36Z</dc:date>
  </channel>
  <item rdf:about="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77644">
    <title>The impact of minimalism, lifestyle of health and sustainability on sustainable consumer behaviors: Mediating role of attitudes towards sustainable consumption</title>
    <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77644</link>
    <description>Title: The impact of minimalism, lifestyle of health and sustainability on sustainable consumer behaviors: Mediating role of attitudes towards sustainable consumption
Author(s): Nguyen Khanh Huy
Abstract: This thesis examines how lifestyle values, specifically minimalism and the Lifestyle of Health and Sustainability (LOHAS), shape sustainable consumer behaviour in anemerging, collectivist market. Grounded in the Value–Attitude–Behaviour framework, the model specifies three attitudinal pathways as mediators, namely perceivedconsumption consequences, perceived real impact, and willingness to spend more onsustainable options. It also incorporates two contextual moderators: collectivistic values (operating on links from values to attitudes) and perceived financial constraints (operating on links from attitudes to behaviour). A multi-stage design was employed: a pilot study refined the instrument and verified reliability and validity, followed by a faceto-face mall-intercept survey across Hanoi, Da Nang, and Ho Chi Minh City, using established measures and a two-step PLS-SEM approach with standard diagnostics. Findings indicate that minimalism and LOHAS shape sustainable consumer behaviour indirectly through the three attitudinal facets; collectivistic values strengthen relationships from values to attitudes, whereas perceived financial constraints weaken the conversion from attitudes to behaviour. The model demonstrates acceptable fit and meaningful explanatory power. The research contributes by extending the Value Attitude–Behaviour framework with lifestyle values (minimalism and LOHAS), a three facet operationalisation of attitudes toward sustainable consumption, and stage-specific boundary conditions (collectivistic values and perceived financial constraints), while also providing validated Vietnamese measures and emerging-market evidence to inform SDG 12-aligned interventions. The study advances VAB theory by integrating lifestyle antecedents and stage-specific moderators in an urban Vietnamese setting and offersactionable guidance: segment by lifestyle values, frame messages to leverage collectivism, and reduce financial frictions (e.g., pricing cues, subsidies, trade-inprogrammes) so favourable attitudes translate into action. Limitations (cross-sectional design, urban focus, self-reports) suggest longitudinal, experimental, and cross-culturalextensions.</description>
    <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77643">
    <title>Tác động kinh tế của phát triển bền vững: Bằng chứng từ chi tiêu công cho môi trường và doanh nghiệp thực hành ESG</title>
    <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77643</link>
    <description>Title: Tác động kinh tế của phát triển bền vững: Bằng chứng từ chi tiêu công cho môi trường và doanh nghiệp thực hành ESG
Author(s): Trần Đình Long
Abstract: Phát triển bền vững ngày càng là trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu bị đe dọa bởi rủi ro môi trường và bất ổn kinh tế. Tuy nhiên, một khoảng trống nghiên cứu vẫn tồn tại liên quan đến chứng minh tác động kinh tế của thực hành Phát triển bền vững ở cấp vĩ mô ngắn hạn lên tăng trưởng GDP và dài hạn lên mức sống GDP bình quân đầu người; Tác động kinh tế ở cấp vi mô lên Giá trị doanh nghiệp. Việc thiếu cơ sở khẳng định tính giá trị kinh tế thách thức chiến lược và thực hành của rất cả các chủ thể kinh tế xã hội. Tuy các nghiên cứu trước đã đề cập đến mối quan hệ giữa các yếu tố này, nhưng chưa có sự phân tích toàn diện từ cả góc độ chính sách công và chiến lược doanh nghiệp, cũng như thiếu hàm ý tương tác giữa các yếu tố như bối cảnh đặc thù kinh tế và chính sách thể chế, đặc biệt là trong ngắn hạn. Dựa trên khoảng trống này, luận án tập trung vào câu hỏi chính: Tác động kinh tế của Phát triển bền vững ở cấp quốc gia - Liệu chi tiêu công cho môi trường có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay không, và các điều kiện như chất lượng thể chế, mức độ lệ thuộc tài nguyên có điều tiết mối quan hệ này không? Thứ hai, ở cấp độ doanh nghiệp - Liệu thực hành ESG có giúp giảm rủi ro tài chính trong điều kiện lãi suất cao qua đó nâng cao giá trị doanh nghiệp hay không? Luận án nghiên cứu thực nghiệm với ba bộ dữ liệu độc lập đáp ứng nhu cầu của mô hình và đảm bảo độ tin cậy trong phân tích. Đối với câu hỏi thứ nhất, luận án kiểm định trên 1803 quan sát từ 90 quốc gia trong giai đoạn 1996-2021 nhằm xem xét mối liên hệ giữa chi tiêu công cho môi trường và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá vai trò điều tiết của chất lượng thể chế và mức độ lệ thuộc tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, nghiên thực hiện phân tích đối sánh theo nhóm quốc gia, phân loại dựa trên mức thu nhập. Đối với câu hỏi thứ hai, nghiên cứu xem xét 535 công ty niêm yết tại ASEAN-5 trong giai đoạn 2017-2021 để phân tích tác động điều tiết của esg lên mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp, xem xét bối cảnh thay đổi của lãi suất điều hành. Đồng thời, nhằm kiểm tra tính ổn định của kết quả, nghiên cứu sử dụng nhiều thang đo khác nhau của các biến chính trong mô hình như esg và đòn bẩy tài chính. Song song đó, nghiên cứu kết hợp với các kiểm định tính bền vững như phân tách tác động riêng lẻ của từng thành phần esg (môi trường, xã hội và quản trị). Cả hai mô hình được nghiên cứu thực hiện bằng phương pháp hiệu ứng cố định (FEM) và phương pháp bình phương 02 giai đoạn nhỏ nhất (2SLS) ước lượng mô hình tĩnh và phương pháp gmm hệ thống hai bước (2-Steps System GMM) được áp dụng để kiểm soát yếu tố cố định theo doanh nghiệp, quốc gia, và năm; xử lý vấn đề nội sinh động và nội sinh tiềm ẩn. Các kiểm định bổ sung bao gồm hansen và AR(2), thống kê Anderson Canonical Correlation LM và kiểm định Cragg-Donald Wald F nhằm nhận diện mô hình và đánh giá tính hợp lệ của công cụ Giải quyết câu hỏi nghiên cứu thứ nhất, nghiên cứu xác thực tác động tích cực của chi tiêu công cho môi trường đến tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên mức độ hiệu quả phụ thuộc lớn vào chất lượng thể chế và mức độ lệ thuộc vào tntn của nền kinh tế. Các quốc gia có thể chế mạnh và ít phụ thuộc vào tntn có xu hướng tận dụng tốt hơn tác động từ chi tiêu công môi trường đến thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giải đáp câu hỏi nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu tìm thấy bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp có điểm esg cao không chỉ có khả năng điều tiết rủi ro tài chính mà còn tạo lợi thế trong tiếp cận vốn, giúp giảm mức độ nhạy cảm của đòn bẩy nợ trước lsđh. Luận án bổ sung vào khung lý thuyết hiện hữu và xây dựng cơ sở thực tiễn quản lý kinh tế bền vững. Về mặt lý thuyết, khung phân tích về ptbv được mở rộng bằng việc xem xét tác động điều tiết của chất lượng thể chế, mức độ lệ thuốc tntn và rủi ro hệ thống tài chính trong mô hình kinh tế của chi tiêu công môi trường và doanh nghiệp thực hành esg. Ứng dụng trong thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở lý luận và thực nghiệm vững chắc để hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách hướng tới tăng cường và tối ưu hóa kinh tế bền vững. Đối với quản trị doanh nghiệp, luận án làm rõ vai trò của esg không dừng lại như một chiến lược tuân thủ mà hơn nữa là một giải pháp tăng cường ổn định tài chính.</description>
    <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77642">
    <title>Chính sách thận trọng vĩ mô, tài chính hóa, tăng trưởng nợ xấu, tín dụng ngân hàng và sản lượng kinh tế</title>
    <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77642</link>
    <description>Title: Chính sách thận trọng vĩ mô, tài chính hóa, tăng trưởng nợ xấu, tín dụng ngân hàng và sản lượng kinh tế
Author(s): Phạm Duy Tính
Abstract: Luận án nghiên cứu về tác động kinh tế của chính sách giới hạn tăng trưởng tín dụng đến hiệu quả của tín dụng ngân hàng tại Việt Nam trên hai phương diện gồm sản lượng kinh tế và tăng trưởng nợ xấu. Luận án sử dụng phương pháp định lượng cho dữ liệu chuỗi thời gian có tần suất quý trong giai đoạn Q2/2008-Q4/2022 với 59 quan sát. Thông qua việc mở rộng mô hình phân tích quá trình có điều kiện, luận án đã phân tách tổng tác động của chính sách giới hạn tăng trưởng tín dụng thành tác động trực tiếp, tác động trung gian và tác động điều tiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy thực thi chính sách giới hạn tăng trưởng tín dụng dưới vai trò là công cụ của chính sách thận trọng vĩ mô không bắt buộc phải đánh đổi giữa sản lượng và ổn định tài chính. Kết quả tác động phụ thuộc vào mức độ tín dụng ngân hàng, tăng trưởng nợ xấu và tài chính hóa trong nền kinh tế. Đặc biệt, hiệu quả ổn định tài chính của chính sách giới hạn tăng trưởng tín dụng càng mạnh mẽ hơn trong môi trường tài chính hóa cao. Mặt khác, chính sách giới hạn tăng trưởng tín dụng giúp phân bổ nguồn vốn tín dụng có hiệu quả hơn, thúc đẩy sản lượng kinh tế gia tăng nhưng mất đi ý nghĩa thống kê sau hai năm. Mặc dù vậy, hiệu quả thúc đẩy sản lượng cũng suy giảm do hiện tượng rò rỉ chính sách từ chu kỳ tài chính mở rộng với đặc trưng tăng trưởng nợ xấu giảm mạnh</description>
    <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77641">
    <title>Chi tiêu chính phủ và chất lượng của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường ở các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển</title>
    <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77641</link>
    <description>Title: Chi tiêu chính phủ và chất lượng của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường ở các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển
Author(s): Lê Hoàng Phong
Abstract: Dựa trên bối cảnh nghiên cứu và thực tiễn, luận án này được thực hiện nhằm xem xét toàn diện vai trò của chính phủ thông qua chi tiêu chính phủ và chất lượng của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế, ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững ở các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển (EMDEs). Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp phân tích định lượng tiếp cận các kỹ thuật kinh tế lượng thế hệ thứ hai thông qua các công cụ ước tính AMG, CCEMG, CS-ARDL, CS-DL nhằm gia tăng độ tin cậy của các ước tính khi tồn tại của tương quan chéo và độ dốc không đồng nhất trong dữ liệu bảng. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được thu thập theo từng năm trong giai đoạn 1990-2022 cho các quốc gia EMDEs. Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy chi tiêu của chính phủ có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế nhưng cũng có tác động làm gia tăng lượng khí thải CO2. Trong khi đó, tác động của chất lượng của chính phủ đối với tăng trưởng không có ý nghĩa thống kê, nhưng có tác động làm gia tăng lượng khí thải CO2. Kết quả chỉ ra rằng, trong dài hạn thì sự gia tăng của cả chi tiêu chính phủ và chất lượng của chính phủ đều có tác động tiêu cực đối với phát triển bền vững. Từ những phát hiện từ các kết quả của nghiên cứu, luận án đề xuất những hàm ý chính sách quan trọng liên quan đến vai trò của chính phủ thông qua chi tiêu và chất lượng của chính phủ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở các quốc gia EMDEs.</description>
    <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
</rdf:RDF>

